Trang chủ » Kiến thức pháp luật » Dân sự » Văn bản pháp luật » Hình sự và tố tụng » Kiến thức pháp luật » Án lệ: Quyết định giám đốc thẩm 573/2013/DS-GĐT về vụ án dân sự tranh chấp thừa kế tài sản

Án lệ: Quyết định giám đốc thẩm 573/2013/DS-GĐT về vụ án dân sự tranh chấp thừa kế tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM 573/2013/DS-GĐT NGÀY 16/12/2013 VỀ VỤ ÁN DÂN SỰ TRANH CHẤP THỪA KẾ TÀI SẢN

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 02-4-2011 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Phùng Thị H1, bà Phùng Thị N1, bà Phùng Thị H2, bà Phùng Thị P trình bày: Bố mẹ nguyên đơn là cụ Phùng Văn N và cụ Phùng Thị G sinh được 06 người con là: Phùng Thị H1,Phùng Thị N1, Phùng Thị H2, Phùng Thị P,Phùng Thị N2, Phùng Văn T.

Tài sản chung của cụ Phùng Văn N và cụ Phùng Thị G là 01 ngôi nhà cấp 4 cùng công trình phụ trên diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc, nguồn gốc đất do cha ông để lại. Ngày 07-7-1984 cụ N chết (trước khi chết không để lại di chúc) cụ G và ông T quản lý và sử dụng nhà đất trên. Năm 1991 cụ G chuyển nhượng cho ông Phùng Văn K một phần diện tích đất trên với diện tích đất là 131m2, còn lại diện tích 267m2, năm 1999 cụ G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ G muốn cho con gái là bà Phùng Thị H1 một phần diện tích đất của cụ để làm nhà ở vì hoàn cảnh của bà H1 đi lấy chồng ở xa, chồng chết nên cụ muốn bà về ở cùng, nhưng ông T giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cụ G không tách đất cho bà H1 được. Vì vậy, các bà khởi kiện ra Tòa án buộc ông T trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ G. Tòa án đã xử buộc ông T phải trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ G nhưng ông T không trả. Vì vậy tháng 3/2010 cụ G đã lập di chúc với nội dung: Để lại cho cho bà H1 diện tích đất 90m2 và toàn bộ cây cối lâm lộc trên diện tích đất có các chiều cạnh: Phía Đông giáp diện tích đất của cụ G, phía Tây giáp nhà ông Khang Nội, phía Nam giáp đường Trung Tâm, phía Bắc giáp nhà anh Thăng Chích. Khi lập di chúc cụ G hoàn toàn minh mẫn khỏe mạnh, có người làm chứng và di chúc đó đã được Ủy ban nhân dân phường M chứng thực. Toàn bộ diện tích 398mlà của cụ G vì khi cụ N chết thì cụ G được toàn quyền sử dụng.

Ngày 19-12-2010 cụ G chết, toàn bộ khối tài sản trên vợ chồng ông T vẫn quản lý sử dụng. Nay các nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc cụG để lại cho bà H1 là 90m2, phần còn lại là 177mđề nghị chia theo pháp luật, kỷ phần thừa kế của bà N1, bà H2, bà P nhường cho bà H1 sử dụng. Ngoài ra tài sản cây cối trên đất và phần diện tích đất nông nghiệp của cụ G các nguyên đơn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông T do bà Phùng Thị H3 (là vợ) đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Bàxác nhận mối quan hệ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại là diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng nhưng toàn bộ công trình xây dựng trên đất là do vợ chồng ông bà xây dựng năm 1997. Năm 1991 cụ G tự ý bán 131m2 cho ông K không bàn bạc với ông T, được bao nhiêu tiền bà sử dụng vào việc gì ông không biết. Đến năm 1999 cụ G được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích còn lại là 267,4m2, ông K cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mua của cụ G. Khi cụ G còn sống có lập di chúc hay không ông bà không biết. Nay các chị em trong gia đình khởi kiện yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật, quan điểm của ông T không đồng ý vì bố mẹ ông chỉ có một mình ông là con trai nên ông sử dụng để ở và thờ cúng tổ tiên, không đồng ý phân chia thừa kế. Ngoài ra cụ G còn có diện tích đất nông nghiệp nhưng ông T không đề nghị phân chia thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị N2 trình bày: Bà xác nhận mối quan hệ bố mẹ, anh chị em trong gia đình, tài sản bố mẹ để lại diện tích đất 398m2 ở tại khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc và thời gian bố mẹ chết như các nguyên đơn trình bày là đúng. Đến năm 1991 mẹ bà chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 ,khi chuyển nhượng các bà đều biết việc này nhưng số tiền bao nhiêu bà không biết, chỉ biết mẹ bà đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và nuôi các con. Còn lại diện tích 267,4m2 đến năm 1999 mẹ bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phùng Thị G mà hiện nay ông T đang sử dụng quản lý. Khi mẹ bà còn sống có lập di chúc hay không bà không biết nay các bà N1, bà H1, bà H2, bà P yêu cầu chia di sản thừa kế diện tích đất trên bà không đồng ý vì bố mẹ bà chỉ có ông T là con trai nên phải để ông T ở và thờ cúng. Nếu Tòa án giải quyết phân chia thừa kế theo pháp luật kỷ phần thừa kế của bà, bà không nhận mà nhường cho ông T được hưởng.

Với nội dung vụ án như trên;

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DSST ngày 04-10-2011 Tòa án nhân dân thành phố VĩnhYên quyết định:

– Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H1, buộc ông T phải có trách nhiệm thanh toán cho bà H1 tổng số tiền là 340.000.000đ (trị giá 68m2 đất). Giao ông Phùng Văn T được sử dụng diện tích đất 68m2 tại tờ bản đồ số 32, số thửa 81 ở khu phố khu L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc (có tứ cận).

– Không chấp nhận yêu cầu của bà N1, bà H2, bà P khởi kiện chia thừa kế tài sản của cụ G theo pháp luật.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18-01-2011 các nguyên đơn bà Phùng Thị N1, bà Phùng Thị H2, bà Phùng Thị P, bà Phùng Thị H1 kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án chia thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc quyết định: sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DSST ngày 4-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

– Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Phùng Thị N1, bà Phùng Thị H2, bà Phùng Thị P, bà Phùng Thị H1.

– Giao cho ông T và người đại diện theo pháp luật của ông T là bà Phùng Thị H3 diện tích 267,4m2, trị giá 1.337.000.000đồng số thửa 81, tờ bản đồ số 32 ở khu phố L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc

– Ông T và người đại diện theo pháp luật của ông T là bà Phùng Thị H3 có trách nhiệm thanh toán trị giá phần thừa kế cho bà H1 là 982.200.000đồng .

Kể từ ngày bà H1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T và người đại diện theo pháp luật của ông T là bà Phùng Thị H3 không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng ông T, bà H3 còn phải chịu lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Sau khi xét xử phúc thẩm bà H3, ông T có đơn yêu cầu xem xét lại bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Tại Quyết định số 131/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 12-11-2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-2-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; với nhận định: Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất cụ G đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2 (bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng.

Tuy nhiên, diện tích 267mđất đứng tên cụ G phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ N và cụ G chưa chia. Cụ G chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2đất chung của vợ chồng bà là 133,5m2 – 90m2 (đã cho bà H1) còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 thừa kế.

Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của cụ N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, ông T đang quản lý thì được tiếp tục quản lý. Tòa án cấp phúc thẩmxác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của cụ G để chia theo di chúc cho bà H1 90m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì diện tích 398m2 đất toạ lạc tại khu phố L, phường M, thành phố N, tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc là tài sản chung vợ chồng cụ Phùng Văn N và cụ Phùng Thị G. Cụ N và cụ G có 06 người con chung là Phùng Thị H1,Phùng Thị N1, Phùng Thị H2,Phùng Thị P, Phùng Thị N2, Phùng Văn T. Ngày 07-7-1984 cụ N chết không để lại di chúc, cụ G và ông T quản lý và sử dụng nhà đất trên.

[2] Năm 1991, cụ G chuyển nhượng cho ông K diện tích 131m2 trong tổng diện tích 398m2 của thửa đất trên; phần diện tích đất còn lại của thửa đất là 267,4m2. Năm 1999 cụ G đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 267,4m2, cụ G cùng vợ chồng ông T vẫn quản lý sử dụng nhà đất này. Việc cụ G chuyển nhượng đất cho ông K các con cụ G đều biết, nhưng không ai có ý kiến phản đối gì, các con của cụ G có lời khai cụ G bán đất để lo cuộc sống của cụ và các con. Nay ông K cũng đã được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, có cơ sở để xác định các con cụ G đã đồng ý để cụ G chuyển nhượng diện tích 131m2nêu trên cho ông K. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa diện tích đất cụ G đã bán cho ông K vào khối tài sản để chia là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản là tổng diện tích đất 398m2(bao gồm cả phần đất đã bán cho ông K) để chia là không đúng.

[3] Ngày 19-12-2010 cụ G chết, trước khi chết cụ đã để lại di chúc lập ngày 05-3-2009 có nội dung để lại cho bà H1 (con gái cụ G) diện tích 90m2 đất trong tổng diện tích 267m2 đất trên, di chúc có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 7-3-2009. Tuy di chúc được lập và chứng thực không cùng ngày qua ý kiến của Ủy ban nhân dân phường và lời khai của những người làm chứng trong di chúc thì có căn cứ để xác định cụ G lập di chúc khi còn minh mẫn và nội dung di chúc theo ý nguyện của cụ G nên Tòa án hai cấp chấp nhận di chúc là có lý, có tình.

[4]Tuy nhiên, diện tích 267m2 đất đứng tên cụ G, nhưng được hình thành trong thời gian hôn nhân nên phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ N và cụ G chưa chia. Cụ G chỉ có quyền định đoạt ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng cụ. Do đó, phần di sản của cụ G để lại là ½ khối tài sản (133,5m2) được chia theo di chúc cho bà H1 (con gái cụ G) là 90m2, còn lại là 43,5m2 được chia cho 5 kỷ phần còn lại (trong đó bà Phùng Thị N2 nhường kỷ phần thừa kế cho ông T, bà H2, bà N1, bà P nhường kỷ phần cho bà H1). Đối với ½ diện tích đất trong tổng diện tích 267m2 đất chung của vợ chồng là phần di sản của cụ N để lại nay đã hết thời hiệu chia thừa kế, ông T là một trong các thừa kế không đồng ý chia, theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì không đủ điều kiện để chia tài sản chung nên phần diện tích đất này ai đang quản lý, sử dụng thì được tiếp tục quản lý, sử dụng.

[5]Tòa án cấp phúc thẩm xác định toàn bộ diện tích 267m2 đất là di sản của cụ G để chia theo di chúc cho bà H190m2 đất và phần đất còn lại 177,4m2 chia theo pháp luật cho 5 kỷ phần là không đúng.

[6] Ngoài ra, ông T không kháng cáo nhưng Tòa án lại tuyên ông T phải chịu 200.000đồng án phí phúc thẩm. Bà N1, bà H2, bà P tự nguyện nhường kỷ phần của các bà cho bà H1 và được Tòa chấp nhận, bà H1 là hộ nghèo được miễn toàn bộ án phí nhưng Tòa cấp phúc thẩm không tuyên trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm cho bà N1, bà H2, bà P đều là không đúng. Vì vậy, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 291, khoản 3 Điều 297 và Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

  Hủy toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 06/2012/DSPT ngày 23-02-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và bản án dân sự sơ thẩm số 11/2011/DS-ST ngày 04-10-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” giữa nguyên đơnbà Phùng Thị H1, bà Phùng Thị N1, bà Phùng Thị H2, bà Phùng Thị P với bị đơn là ông Phùng Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Phùng Thị N2, Phùng Thị H3.

Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.