Trang chủ » Văn bản pháp luật » Hình sự và tố tụng » Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bạn Trần V.Ng ở Nghệ An có gửi câu hỏi đến Văn phòng Luật sư Quang Dũng và cộng sự:

Tôi là sinh viên vừa mới ra trường nhưng chưa xin được việc làm. Có một người là anh Nguyễn V. H,  giới thiệu với tôi là có thể chạy cho tôi vào công chức Nhà nước. Sau đó, ngày 20/1/2015 tôi có hẹn anh H để nói chuyện thì anh H ra giá 100 triệu đồng để chạy cho tôi vào công chức Nhà nước.

Ngày 23/1/2015, tôi đã giao đủ số tiền đó cho anh H. Nhưng đến bây giờ, hơn một năm anh H cứ hẹn tháng này qua tháng khác là sẽ xin được việc cho tôi. Qua tìm hiểu tôi được biết là anh H không chỉ hứa hẹn sẽ xin được việc cho tôi mà còn hứa hẹn xin được việc cho nhiều người khác nữa.

Vậy thưa Luật sư Quang Dũng và cộng sự cho tôi hỏi tôi có thể làm đơn tố cáo hành vi của anh H về tội gì? Cảm ơn Luật sư Quang Dũng và cộng sự!

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Văn phòng Luật của chúng tôi.

Với câu hỏi của bạn, chúng tôi trả lời bạn như sau:

Trong vụ việc này, bạn có các bằng chứng chứng minh việc đưa và nhận tiền của người đó thì đã có dấu hiệu của tội ” lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Thứ nhất, bạn có thể hiểu ” lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó”.

Thứ hai, có thể khẳng định hành vi của anh Hưng có đủ các yếu tố cấu thành tội ” lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, vì:

  • Về mặt khách quan:

+ Anh H có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Có nghĩa là anh H đưa ra thông tin giả và nói  dối là ” có thể xin việc vào công chức Nhà nước cho bạn”  làm cho anh tin đó là thật và giao tài sản cho anh H.

Anh H đã chiếm đoạt được tài sản, ở đây là ” 100 triệu” của bạn, nhưng lại vẫn chưa xin được việc làm cho bạn.

+ Về giá trị tài sản chiếm đoạt: theo quy định của Điều luật trên thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2000.000 đồng trở lên.Trong trường hợp của bạn, tài sản bị chiếm đoạt là 100 triệu đồng. ( thuộc điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015).

  •  Về khách thể,  hành vi nêu trên đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bạn Ng.
  • Về mặt chủ quan, thì người phạm tội là anh H đã thực hiện phạm tội với lỗi cố ý, bởi lẽ:
    + Anh H đã có ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, vì trên thực tế anh H biết rõ là anh không thể xin được việc cho bất kì ai.
    + Anh H ý thức được rằng anh không có khả năng xin được việc cho bạn Ng  nhưng vẫn cố ý lừa dối bạn để chiếm đoạt tài sản của bạn. Tức là thủ đoạn gian dối này phát sinh trước khi có được tài sản của bạn.
  • Về chủ thể, anh H là người có năng lực trách nhiệm hình sự.
    Như vậy, hành vi của anh H đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo đúng quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
    Bạn có thể làm đơn tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của anh H đến cơ quan Công an nơi bạn cư trú. Sau khi xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cơ quan công an tiếp nhận tố cáo sẽ làm thủ tục chuyển đến cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án theo quy định của pháp luật.
    Trên đây là toàn bộ phần tư vấn của Văn phòng Luật sư Quang Dũng và cộng sự, có gì thắc mắc hãy liên hệ tới:
    VĂN PHÒNG LUẬT SƯ QUANG DŨNG VÀ CỘNG SỰ
    SỐ 8 CHỢ TRE – ĐÔNG NGÀN – TỪ SƠN – BẮC NINH
    SĐT: 0983.230.137
    EMAIL: luatsuquangdung@gmail.com