Trang chủ » Văn bản pháp luật » Hình sự và tố tụng » Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự 2015

Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự 2015

Theo tinh thần Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội (sau đây viết tắt là Nghị quyết 109) thì các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/7 /2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.

Các tội phạm mới quy định tại các Điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 292, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước ngày 01/7/2016 để giải quyết.

Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; “quy mô lớn” đã được áp dụng để khởi tố bị can trước ngày 01/7/2016  thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Đối với hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 2015 bãi bỏ (các Điều 83, 149, 159, 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999) xảy ra trước ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bộ luật Hình sự năm 1999) để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án, thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về các tội danh trên hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước ngày 01/7/2016 để giải quyết; nếu sau ngày 01/7/2016 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh này (Điều 83, 149, 159, 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999) mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo tội danh tương ứng.

Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/7/2016 , thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01/7/2016, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109.

Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245 và 246 của Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại xảy ra trước ngày 01/7/2016.

Kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 được công bố:

Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;

– Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

– Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.

– Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: Tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính… Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

– Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

 Các vấn đề cụ thể

PHẦN THỨ NHẤT: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Chương I: Điều khoản cơ bản

  1. Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự –Căn cứ Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài các nhiệm vụ được đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung thêm nhiệm vụ sau:

– Bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước.

– Bảo vệ quyền con người.

  1. Cơ sở của trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài cơ sở của trách nhiệm hình sự đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung thêm trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân) mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Nguyên tắc xử lý –Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015

* Đối với người phạm tội Bộ luật sửa đổi một số nội dung sau:

– Chỉ nghiêm trị đối với người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thay vì gây hậu quả nghiêm trọng như trước đây: Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Quy định cụ thể trường hợp nào được giảm chấp hành hình phạt hơn so với trước: Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện.

* Đối với pháp nhân thương mại phạm tội – Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015:

– Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật.

– Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

– Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Chương II: Hiệu lực của Bộ luật Hình sự

  1. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây viết tắt là CHXHCNVN) –Căn cứ Điều 5 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam:

Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước CHXHCNVN.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

– Quy định lại nội dung áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN:

Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCNVN thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó.

Trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

(Trước đây, mặc định các đối tượng này được giải quyết bằng con đường ngoại giao).

  1. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam –Căn cứ Điều 6 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm hiệu lực áp dụng Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ngoài lãnh thổ nước CHXHCNVN.

– Thêm hiệu lực áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, đồng thời bổ sung những trường hợp có thể bị xử lý hình sự.

– Bổ sung quy định áp dụng đối với tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam.

  1. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian –Căn cứ Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung cụm từ “loại trừ trách nhiệm hình sự”, “tha tù trước thời hạn có điều kiện” vào quy định tại Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Chương III: Tội phạm

  1. Khái niệm tội phạm –Căn cứ Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm quy định đối với pháp nhân thương mại, đồng thời bổ sung trường hợp xâm phạm quyền con người.

  1. Phân loại tội phạm –Căn cứ Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015

Giữ nguyên 4 loại tội phạm như trước, đồng thời, bổ sung mức cao nhất của khung hình phạt đối với một số tội phạm và nhấn mạnh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm.

  1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm điều khoản loại trừ đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên tại Khoản 1 Điều 12.

– Bổ sung thêm tội và quy định cụ thể các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự tại Khoản 2 Điều 12.

  1. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác –Căn cứ Điều 13 Bộ luật Hình sự năm 2015

Làm rõ quy định đối với phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác:

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Chuẩn bị phạm tội –Căn cứ Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung điều khoản loại trừ:

Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm trừ trường hợp sau:

+ Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

+ Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

+ Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.

– Chi tiết các tội phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm một trong các tội sau thì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội sau: Tội phản bội Tổ quốc; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước CHXHCNVN; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCNVN; tội phá rối an ninh; tội chống phá trại giam; tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân; tội giết người; tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội khủng bố; tội tài trợ khủng bố; tội bắt cóc con tin; tội cướp biển; tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; tội rửa tiền

– Bổ sung quy định sau: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Đồng phạm –Căn cứ Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài các quy định đã được Bộ luật Hình sự năm 1999 đề cập, bổ sung quy định sau: “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”

  1. Che giấu tội phạm –Căn cứ Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung quy định: Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về che giấu tội phạm, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định về tội che giấu tội phạm.

  1. Không tố giác tội phạm –Căn cứ Điều 19 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung quy định: Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định về không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định về không tố giác tội phạm.

Chương IV: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

  1. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bãi bỏ quy định áp dụng bắt buộc chữa bệnh đối với người đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

  1. Tình thế cấp thiết –Căn cứ Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thay cụm từ “nguy cơ đang thực tế đe doạ” thành cụm từ “gây thiệt hại cho” vào quy định sau: Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

  1. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội –Căn cứ Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định hoàn toàn mới tại Bộ luật Hình sự năm năm 2015 nhằm phân định ranh giới rõ rang mức độ được loại trừ trách nhiệm hình sự và mức đội chịu trách nhiệm hình sự.

– Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

– Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ –Căn cứ Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

– Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

  1. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên –Căn cứ Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

– Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp phạm tội sau:

+ Phạm tội phá hoại hoà bình, gây chiến tranh xâm lược do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên.

+ Phạm tội chống loài người do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên.

+ Phạm tội chiến tranh do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên.

Chương V: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự

  1. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 28 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm các trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội:

– Tham ô chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên.

– Tham ô gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng trở lên.

– Tham ô gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Tham ô dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

– Nhận hối lộ mà của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên.

– Nhận hối lộ gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng trở lên.

  1. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: “Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

– Trường hợp có chuyển biến tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội thì có thể miễn trách nhiệm hình sự thay về mặc định được miễn trách nhiệm hình sự như trước đây.

– Bổ sung thêm trường hợp có thể được miễn trách nhiệm được miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Bổ sung quy định: “Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”

Chương VI: Hình phạt

  1. Khái niệm hình phạt –Căn cứ Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung khái niệm hình phạt đối với pháp nhân thương mại. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mạiphạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

  1. Mục đích của hình phạt –Căn cứ Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm mục đích của hình phạt đối với pháp nhân thương mại.

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

  1. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội –Căn cứ Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới đặc biệt quan trọng tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Hình phạt chính bao gồm:

+ Phạt tiền.

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn.

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

– Hình phạt bổ sung bao gồm:

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định.

+ Cấm huy động vốn.

+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

-Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

  1. Phạt tiền –Căn cứ Điều 35 và Điều 77 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Quy định lại các trường hợp phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính.

– Bổ sung hình thức phạt tiền đối với pháp nhân.

  1. Cải tạo không giam giữ –Căn cứ Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định đối với trường hợp cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập ngoài các quy định như sau:

+ Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng.

+ Không bị khấu trừ đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

– Bổ sung quy định sau: “Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự”.

  1. Tù có thời hạn –Căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài các quy định đã được nêu tại Bộ luật Hình sự năm 1999, bổ sung quy định sau: Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng.

  1. Tù chung thân –Căn cứ Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi”

Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

  1. Tử hình –Căn cứ Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Quy định cụ thể về hình phạt tử hình: Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định.

– Thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi” và bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ đủ 75 tuổi trở lên.

– Bên cạnh các đối tượng không thi hành án tử hình nếu bị kết án đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, bổ sung thêm các đối tượng sau:

+ Người đủ 75 tuổi trở lên.

+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

– Ngoài trường hợp được ân giảm thì trường hợp không thi hành án tử hình nêu trên cũng được chuyển từ hình phạt tử hình sang hình phạt tù chung thân.

  1. Tước một số quyền công dân –Căn cứ Điều 44 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bãi bỏ quyền bầu cử khỏi nhóm quyền công dân bị tước khi vi phạm pháp luật hình sự.

  1. Tịch thu tài sản –Căn cứ Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm các trường hợp áp dụng biện pháp tịch thu tài sản.

Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma tuý, tham nhũng hoặc tội phạm khác do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định.

Chương VII: Các biện pháp tư pháp

  1. Các biện pháp tư pháp –Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Hệ thống lại các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội bao gồm:

+ Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

+ Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

+ Bắt buộc chữa bệnh.

– Thêm các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại bao gồm:

+ Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

+ Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

+ Khôi phục lại tình trạng ban đầu.

+ Thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

  1. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm –Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp áp dụng tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.

Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy được áp dụng đối với:

+ Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

+ Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

+ Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

– Bãi bỏ quy định sung quỹ nhà nước đối với trường hợp sau:

Vật, tiền là tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu.

Chương VIII: Quyết định hình phạt

  1. Căn cứ quyết định hình phạt –Căn cứ Khoản 2 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài quy định đã được đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 1999, bổ sung quy định sau:

Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ đã quy định, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

  1. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự –Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau:

+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

+ Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

+ Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

+ Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

+ Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng.

– Đầu thú có thể được Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ.

  1. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự –Căn cứ Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau:

+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên (trước đây, quy định phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai và người già).

+ Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác.

  1. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng –Căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định lại nội dung này như sau:

– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định.

– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

– Trong trường hợp có đủ các điều kiện trên nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

  1. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt –Căn cứ Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi quy định hình phạt đối với chuẩn bị phạm tội: Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể.

– Giảm nhẹ khung hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt mà điều luật quy định mức phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình.

Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm (thay vì áp dụng luôn hình phạt này như Bộ luật Hình sự năm 1999)

  1. Miễn hình phạt –Căn cứ Điều 59 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định lại nội dung miễn hình phạt như sau:

Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp sau mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn TNHS:

– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định.

– Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Chương IX: Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt

  1. Thời hiệu thi hành bản án –Căn cứ Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm quy định về thời hiệu thi hành bản án đối với pháp nhân thương mại.

– Bổ sung thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án ngoài các quy định đã đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 1999: “20 năm đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình”.

  1. Miễn chấp hành hình phạt –Căn cứ Điều 62 Bộ luật Hình sự năm 2015

Phân định việc miễn chấp hành hình phạt đối với người bị kết án tù có thời hạn đến 03 năm và trên 03 năm:

– Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Sau khi bị kết án đã lập công.

+ Mắc bệnh hiểm nghèo.

+ Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

– Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Bổ sung trường hợp được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại:

– Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

Bổ sung quy định về nghĩa vụ dân sự trong trường hợp được miễn chấp hành hình phạt:

– Người được miễn chấp hành hình phạt theo quy định này vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.

  1. Giảm mức hình phạt đã tuyên –Căn cứ Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi quy định sau:

+ Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

+ Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 1/3 thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.

– Bổ sung quy định đối với trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân:

+ Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.

– Bổ sung quy định đối với người đã được giảm một phần hình phạt nhưng lại phạm tội mới ít nghiêm trọng:

Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 1/2 mức hình phạt chung.

– Quy định lại việc áp dụng giảm một phần hình phạt mà phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng:

Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định đối với trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân đã nêu trên.

– Bổ sung quy định giảm mức hình phạt đối với người bị kết án tử hình:

Đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp sau thì thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm:

+ Người đủ 75 tuổi trở lên.

+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

  1. Án treo –Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Ngoài việc được hưởng án treo, người phạm tội còn phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự:

Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

– Bao hàm hết các hình phạt bổ sung thay vì kể tên như quy định trước đây:

Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.

– Bổ sung quy định trong trường hợp trong thời gian thử thách vi phạm nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự:

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định.

  1. Tha tù trước thời hạn có điều kiện –Căn cứ Điều 66 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới được đề cập tại Bộ Luật Hình sự năm 2015.

– Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau:

+ Phạm tội lần đầu.

+ Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt.

+ Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên.

+ Có nơi cư trú rõ ràng.

+ Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự.

+ Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là 1/3 hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

+ Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.

– Không áp dụng quy định này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bố; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy.

+ Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp không thi hành án tử hình quy định đã nêu trên.

– Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.

– Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định.

– Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là 1/2 thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Chương X: Xóa án tích

  1. Xóa án tích –Căn cứ Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bãi bỏ quy định cấp Giấy chứng nhận khi được Tòa án xóa án tích.

– Bổ sung quy định sau: “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích”.

– Bỏ trường hợp đương nhiên được xóa án tích đối với người được miễn hình phạt.

– Sửa đổi lại nội dung quy định người bị kết án đương nhiên được xóa án tích. Được quy định cụ thể tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Bổ sung quy định: Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định đương nhiên được xóa án tích.

  1. Đương nhiên được xóa án tích –Căn cứ Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định lại nội dung này như sau: Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau:

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo.

+ 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm (trước đây là 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 03 năm).

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm (trước đây là 05 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 03 năm đến 15 năm).

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án (trước đây là 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm)

  1. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án –Căn cứ Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định lại nội dung này như sau: Người bị kết án được Tòa án quyết định xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau:

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm (trước đây là 03 năm trong trường hợp đã bị phạt tù đến 03 năm).

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm (trước đây là 07 năm trong trường hợp đã bị phạt tù từ trên 03 năm đến dưới 15 năm).

+ 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án (trước đây là 10 năm trong trường hợp đã bị phạt tù từ trên 15 năm).

  1. Cách tính thời hạn để xóa án tích –Căn cứ Điều 73 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi quy định về xóa án tích trong trường hợp chưa được xóa mà phạm tội mới: Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

– Bổ sung quy định sau: Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định về việc xóa án tích theo quyết định của Tòa án, Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

Chương XI: Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Đây là một chương quy định hoàn toàn mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015

  1. Áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội –Căn cứ Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 2015

Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu TNHS theo những quy định của Chương này; theo quy định hác của Phần thứ nhất của Bộ luật Hình sự năm  2015 không trái với quy định của Chương này.

  1. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại –Căn cứ Điều 75 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi có đủ các điều kiện sau:

+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại.

+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại.

+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.

+ Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định đã đề cập trên.

– Việc pháp nhân thương mại chịu TNHS không loại trừ TNHS của cá nhân.

  1. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại –Căn cứ Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS về các tội phạm sau:

– Tội buôn lậu.

– Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.

– Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm.

– Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.

– Tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

– Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm.

– Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.

– Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi.

– Tội đầu cơ.

– Tội trốn thuế.

– Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ.

– Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán.

– Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán.

– Tội thao túng thị trường chứng khoán.

– Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm.

– Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLĐ.

– Tội vi phạm quy định về cạnh tranh.

– Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.

– Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.

– Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên.

– Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.

– Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã.

– Tội gây ô nhiễm môi trường.

– Tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường.

– Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông.

– Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam.

– Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản.

– Tội huỷ hoại rừng.

– Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.

– Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên.

– Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.

  1. Phạt tiền –Căn cứ Điều 77 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

– Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.

  1. Đình chỉ hoạt động có thời hạn –Căn cứ Điều 78 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

– Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn –Căn cứ Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.

– Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động.

  1. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định –Căn cứ Điều 80 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

– Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

– Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Cấm huy động vốn –Căn cứ Điều 81 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

– Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

+ Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư.

+ Cấm phát hành, chào bán chứng khoán.

+ Cấm huy động vốn khách hàng.

+ Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước.

+ Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

– Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định trên.

– Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội –Căn cứ Điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện tư pháp sau đây đối với pháp nhn thương mại phạm tội:

+ Các biện pháp tư pháp sau: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

+ Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.

+ Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

– Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm phạm tội của mình gây ra.

– Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp sau nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm:

+ Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép.

+ Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh.

+ Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước CHXHCNVN hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước CHXHCNVN, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm.

+ Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định pháp luật.

+ Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm.

+ Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.

  1. Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội –Căn cứ Điều 83 Bộ luật Hình sự năm 2015

Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

  1. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại –Căn cứ Điều 84 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS:

+ Đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

+ Tự nguyện sửa chữa, BTTH hoặc khắc phục hậu quả.

+ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.

+ Tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội.

– Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.

– Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.

  1. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại –Căn cứ Điều 85 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng TNHS:

+ Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội.

+ Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội.

+ Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.

– Các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.

  1. Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội –Căn cứ Điều 86 Bộ luật Hình sự năm 2015

Khi xét xử cùng 01 lần pháp nhân thương mại phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau:

– Đối với hình phạt chính:

+ Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung.

+ Hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với từng lĩnh vực cụ thể thì không tổng hợp.

+ Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác.

– Đối với hình phạt bổ sung:

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung.

+ Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.

  1. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án –Căn cứ Điều 87 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Trường hợp pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định nêu trên.

Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

– Khi xét xử một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định nêu trên.

– Trong trường hợp một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định trên.

  1. Miễn hình phạt –Căn cứ Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 2015

Pháp nhân phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

  1. Xóa án tích –Căn cứ Điều 89 Bộ luật Hình sự năm 2015

Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.

Chương XII: Những quy định đối với người dưới 18 tuổi

  1. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội –Căn cứ Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” thành người “dưới 18 tuổi”, đồng thời đề cao nguyên tắc đảm bảo lợi ích tốt nhất cho đối tượng này khi xử lý hình sự.

– Quy định lại nội dung được miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

– Bổ sung thêm căn cứ những đặc điểm về nhân thân trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

– Quy định lại nội dung xét xử đổi với người dưới 18 tuổi.

– Nhấn mạnh việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn với người dưới 18 tuổi: “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa.

Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”.

– Bãi bỏ quy định “Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

  1. Điều kiện áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội –Căn cứ Điều 92 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới được đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ quyết định miễn TNHS và áp dụng biện pháp khiển trách, hòa giải tại cộng đồng hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, nếu người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này.

  1. Khiển trách –Căn cứ Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là một trong những biện pháp giáo dục áp dụng trong trường người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS.

– Khiển trách được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội và hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ:

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng.

+ Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

– Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khiển trách. Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người dưới 18 tuổi.

– Người bị khiển trách phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

+ Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc.

+ Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

+ Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

– Tuỳ từng trường hợp cụ thể cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện các nghĩa vụ trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp từ 03 tháng đến 01 năm.

  1. Hòa giải tại cộng đồng –Căn cứ Điều 94 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là một trong những biện pháp giáo dục áp dụng trong trường người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS.

– Hòa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau:

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng.

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định trên.

– Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại đã tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn TNHS.

– Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

+ Xin lỗi người bị hại và BTTH.

+ Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc.

+ Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

+ Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

  1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn –Căn cứ Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định chi tiết việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999:

– Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 01 năm đến 02 năm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau:

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định trên.

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định trên.

– Người được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức giám sát, giáo dục phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

+ Chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động.

+ Chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn.

+ Không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép.

+ Tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc.

+ Trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu.

+ Tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.

  1. Giáo dục tại trường giáo dưỡng –Căn cứ Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung quy định sau ngoài quy định đã được đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 1999:

Người được giáo dục tại trường giáo dưỡng phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.

  1. Các hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội –Căn cứ Điều 98 Bộ luật Hình sự năm 2015

Không thay đổi nội dung, thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi”.

  1. Phạt tiền –Căn cứ Điều 99 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bãi bỏ cụm từ “người chưa thành niên”

  1. Cải tạo không giam giữ –Căn cứ Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau:

Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.

– Thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi”.

  1. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt –Căn cứ Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

– Tòa án quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt theo nguyên tắc quy định đã nêu trên.

– Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1/3 mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.

Mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1/2 mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng.

– Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá 1/3 mức hình phạt cao nhất quy định trên.

Mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá 1/2 mức phạt quy định.

  1. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tộiCăn cứ Điều 103 Bộ luật Hình sự năm 2015

Cụ thể hóa quy định tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999:

– Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định.

Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm.

Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.

– Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

+ Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định nêu trên.

+ Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định nêu trên.

– Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

+ Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất nêu trên.

+ Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.

  1. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án –Căn cứ Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước hoặc sau khi có bản án này, được thực hiện theo quy định đã được đề cập trên.

Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định nêu trên.

  1. Giảm mức hình phạt đã tuyên –Căn cứ Điều 105 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi”, nội dung còn lại không đổi.

  1. Tha tù trước hạn có điều kiện –Căn cứ Điều 106 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015. Trước đây, Bộ luật Hình sự năm 1999 không đề cập đến quy định này.

  1. Xóa án tích –Căn cứ Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015

Cụ thể hóa các trường hợp được xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

– Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi.

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.

+ Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định trên.

– Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xoá án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.

PHẦN THỨ HAI: CÁC TỘI PHẠM

Chương XIII: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia

  1. Tội phản bội Tổ quốc – Căn cứ Điều 108 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài các quy định đã được đề cập tại BLHS 1999, bổ sung quy định sau: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân – Căn cứ Điều 109 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm mức phạt cao nhất đối với đồng phạm khác của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (trước đây mức phạt tù là từ 05 năm đến 15 năm).

– Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội gián điệp – Căn cứ Điều 110 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ – Căn cứ Điều 111 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội bạo loạn – Căn cứ Điều 112 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân – Căn cứ Khoản Điều 113 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 10 đến 15 năm:

+ Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.

+ Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố.

+ Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe của cán bộ, công chức hoặc người khác.

– Tăng mức phạt tù trong trường hợp đe doạ xâm phạm tính mạng hoặc có những hành vi khác uy hiếp tinh thần thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm)

– Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam –Căn cứ Điều 114 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội – Căn cứ Điều 115 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm mức phạt tù cao nhất đối này từ 07 năm đến 15 năm (trước đây, mức phạt tù từ 07 năm đến 20 năm)

– Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội phá hoại chính sách đoàn kết – Căn cứ Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Căn cứ Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội phá rối an ninh – Căn cứ Điều 118 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội chống phá cơ sở giam giữ – Căn cứ Khoản 3 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân – Căn cứ Điều 120 Bộ luật Hình sự năm 2015

Điều này được tách ra từ tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

  1. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân –Căn cứ Điều 121 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội này là từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Hình phạt bổ sung – Căn cứ Điều 122 Bộ luật Hình sự năm 2015

Không giới hạn thời gian tước quyền công dân như trước đây.

Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người

  1. Tội giết người – Căn cứ Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ đối tượng bị giết là trẻ em: Giết người dưới 16 tuổi (trước đây, quy định là giết trẻ em)

  1. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ – Căn cứ Điều 124 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tăng nặng khung hình phạt đối với tội giết con mới đẻ, đồng thời tách biệt mức phạt đối với tội giết con mới đẻ và vứt bỏ con mới đẻ.

  1. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội – Căn cứ Điều 126 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bổ sung thêm tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

  1. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ – Căn cứ Điều 127 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tăng nặng khung hình phạt tù đối với tội làm chết người trong khi thi hành công vụ do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm).

  1. Tội vô ý làm chết người – Căn cứ Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015

Tăng mức phạt tối thiểu đối với tội vô ý làm chết người từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, chỉ có mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm).

  1. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính –Căn cứ Điều 129 Bộ luật Hình sự năm 2015

Giảm mức phạt tù cao nhất đối với tội này xuống còn từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 01 năm đến 06 năm).

  1. Tội bức tử – Căn cứ Điều 130 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm trường hợp bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm đối với tội bức tử là phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

  1. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát – Căn cứ Điều 131 Bộ luật Hình sự năm 2015

Cụ thể các hành vi vi phạm bị xem là tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát, đồng thời bổ sung thêm hình phạt ngoài hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng – Căn cứ Điều 132 Bộ luật Hình sự năm 2015

Ngoài các quy định đã được Bộ luật Hình sự năm 1999 đề cập, bổ sung thêm quy định sau: Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

  1. Tội đe dọa giết người – Căn cứ Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi khung hình phạt đối với tội này như sau:

Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây là 02 năm) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm).

– Làm rõ trẻ em là người dưới 16 tuổi, đồng thời bổ sung trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

  1. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác – Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung các trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

– Bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc tù chung thân ngoài các trường hợp đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999, đó là trường hợp:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

– Bổ sung quy định đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh– Căn cứ Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 2015

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. (Trước đây, tội này bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm)

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):

+ Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người.

  1. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội – Căn cứ Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 2015

Sửa đổi mức phạt đối với tội này, đồng thời bổ sung thêm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

  1. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ– Căn cứ Điều 137 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi mức phạt tù tối thiểu với tội này là từ 06 tháng đến 03 năm. (trước đây, mức phạt tù này từ 03 tháng đến 03 năm)

– Bổ sung các trường hợp bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm là:

+ Đối với 02 người trở lên, mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ.

  1. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác – Căn cứ Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi mức phạt đối với tội này như sau:

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (trước đây là từ 30% trở lên), thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. (Trước đây, mức phạt này là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

– Bãi bỏ quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

  1. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính – Căn cứ Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Người vi phạm tội này sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. (Trước đây, mức phạt này là phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.)

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội hành hạ người khác – Căn cứ Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Sửa đổi khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây là đến 01 năm) hoặc phạt tù từ 03 tháng 2 năm.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm, đồng thời làm rõ các trường hợp đã được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999:

  1. Tội hiếp dâm – Căn cứ Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm là trường hợp gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

– Thêm trường hợp bị phạt tù 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân là trường hợp:

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

  1. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hiếp dâm trẻ em là hiếp dâm người dưới 16 tuổi và làm rõ hành vi hiếp dâm đối tượng này hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời giảm khung hình phạt đối với hành vi giao cấu người dưới 13 tuổi(từ 07 năm đến 15 năm so với trước đây hành vi này bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình)

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, đó là trường hợp:

+ Gây thương tích cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Đối với 02 người trở lên.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, đó là các trường hợp:

+ Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi.

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

  1. Tội cưỡng dâm – Căn cứ Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tăng mức phạt tù tối thiểu đối với tội cưỡng dâm từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm)

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

– Tăng mức phạt tối thiểu đối với các trường hợp sau từ 10 năm đến 18 năm (trước đây, mức phạt tù từ 07 năm đến 18 tuổi):

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

+ Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

+ Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

  1. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 144 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là các trường hợp:

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

+ Phạm tội 02 lần trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm)

+ Đối với 02 người trở lên (chuyển khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thành khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm)

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

  1. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi vi phạm tội này như sau: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định về hiếp dâm người dưới 16 tuổi, cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, đó là các trường hợp:

+ Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là trường hợp:

Gây thương tích cho nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

  1. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi dâm ô với người dưới 16 tuổi (trước đây quy định là trẻ em).

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

  1. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm – Căn cứ Điều 147 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại BLHS 2015.

  1. Tội lây truyền HIV cho người khác – Căn cứ Điều 148 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm điều khoản loại trừ đối với tội lây truyền HIV cho người khác:

Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, đó là trường hợp đối với phụ nữ mà biết là có thai, đồng thời làm rõ đối tượng chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.

  1. Tội cố ý truyền HIV cho người khác – Căn cứ Khoản 1, 2, 3 Điều 149 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm mức phạt tối đa đối với tội cố ý truyền HIV cho người khác từ 03 năm đến 07 năm (thay vì từ 03 năm đến 10 năm như trước đây)

– Quy định lại khung hình phạt.

  1. Tội mua bán người – Căn cứ Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tăng khung hình phạt tù đối với tội mua bán người từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, từ 02 năm đến 07 năm), đồng thời, làm rõ các hành vi được xem là mua bán người đó là: Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

+ Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

+ Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi nêu trên.

– Sửa đổi quy định sau: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (trước đây, người phạm tội còn có có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm).

  1. Tội mua bán người dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015

Được tách ra từ tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

  1. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi – Căn cứ Điều 152 Bộ luật Hình sự năm 2015

Được tách ra từ tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

  1. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi – Căn cứ Điều 153 Bộ luật Hình sự năm 2015

Được tách ra từ tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em quy định tại Bộ luật Hình sự năm 1999.

  1. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người – Căn cứ Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là loại tội mới được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội làm nhục người khác – Căn cứ Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tăng thời hạn tối đa đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, thay mức phạt tù thành mức phạt tiền đối với tội này:

Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

(Trước đây, phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm)

– Bổ sung khung hình phạt tù từ 02 năm đến 05 năm đối với các tội sau:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

+ Làm nạn nhân tự sát.

  1. Tội vu khống – Căn cứ Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thay hình phạt cảnh cáo bằng hình phạt tiền, giảm mức phạt tù cao nhất đối với tội này từ 02 năm xuống còn 01 năm.

– Giảm khung hình phạt đối với các trường hợp phạm tội sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm (thay vì mức phạt tù từ 01 năm đến 07 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Đối với 02 người trở lên.

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình.

+ Đối với người đang thi hành công vụ.

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

– Bổ sung khung hình phạt đối với phạm tội thuộc các trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Vì động cơ đê hèn.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.

+ Làm nạn nhân tự sát.

– Tăng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (thay vì mức phạt tiền từ 01 triệu đến 10 triệu đồng như trước đây), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chương XV: Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân

  1. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật – Căn cứ Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Tăng mức phạt đối với tội này lên đến 3 năm phạt cải tạo không giam giữ (trước đây là 02 năm) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).

– Tăng khung hình phạt đối với các trường hợp phạm tội sau từ 02 năm đến 07 năm (trước đây khung hình phạt là 01 năm đến 05 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Đối với người thi hành công vụ.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Đối với 02 người trở lên.

+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ.

+ Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%.

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (trước đây khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm):

+ Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sátTra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên.

  1. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác – Căn cứ Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi xâm phạm chỗ ở của người khác hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999, đồng thời mức phạt tù cao nhất:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau xâm phạm chỗ ở của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm (trước đây là 01 năm) hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm):

+ Khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác.

+ Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ.

+ Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở, được vào chỗ ở của họ.

+ Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp.

– Tăng mức phạt tối đa trong trường hợp phạm tội thuộc các trường hợp sau từ 01 năm đến 05 năm(trước đây mức phạt tù từ 01 năm đến 03 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  1. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác – Căn cứ Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội này, đồng thời tăng mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây là từ 1 triệu đến 5 triệu đồng) và mức phạt tối đa đối với hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây là 01 năm).

– Thay đổi khung hình phạt đối với hành vi phạm tội trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm (trước đây là phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác.

+ Làm nạn nhân tự sát.

– Tăng mức phạt tiền tối thiểu đối với hình phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng(trước đây là từ 2 triệu đến 20 triệu đồng).

  1. Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân – Căn cứ Điều 160 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm tội xâm phạm quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

  1. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân – Căn cứ Điều 161 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm tội làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân, đồng thời hạ mức phạt tù thấp nhất với tội này là phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây mức phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm).

– Làm rõ quy định gây hậu quả nghiêm trọng.

  1. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật –Căn cứ Điều 162 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hoá tội này, đồng thời, thay hình phạt cảnh cáo bằng hình phạt tiền như sau:

Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

+ Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức.

+ Sa thải trái pháp luật đối với người lao động.

+ Cưỡng ép, đe doạ buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc.

– Đồng thời, bổ sung quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Đối với 02 người trở lên.

+ Đối với phụ nữ mà biết là có thai.

+ Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

+ Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân – Căn cứ Khoản 1, 2 Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nhấn mạnh hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác.

– Thêm quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Dẫn đến biểu tình.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  1. Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác – Căn cứ Điều 164 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nhấn mạnh hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Dẫn đến biểu tình.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

  1. Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới – Căn cứ Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thay hình phạt tù bằng hình phạt tiền, đồng thời, cụ thể hoá các hành vi vi phạm này.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Đối với 02 người trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo – Căn cứ Điều 166 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bãi bỏ hình phạt cảnh cáo, tăng mức phạt tối đa đối với cải tạo không giam giữ, tăng mức phạt thấp nhất đối với phạt tù.

  1. Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân – Căn cứ Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là tội mới được quy định tại BLHS 2015.

Chương XVI: Các tội xâm phạm sở hữu

  1. Tội cướp tài sản – Căn cứ Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là:

+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

– Bãi bỏ hình phạt tử hỉnh đối với trường hợp phạm tội sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Làm chết người (làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng)

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (bổ sung thêm trường hợp này).

– Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội.

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản – Căn cứ Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm, đó là:

+ Đối với người dưới 16 tuổi (làm rõ đối tượng là trẻ em)

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng tại quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người bị bắt làm con tin mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên. (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng).

– Thêm trường hợp phạm tội và làm rõ một số trường hợp bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người 46% trở lên (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng).

+ Làm chết người.

– Bổ sung mức phạt đối với người chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội cưỡng đoạt tài sản – Căn cứ Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, đó là:

+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng).

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”.

  1. Tội cướp giật tài sản – Căn cứ Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, đó là:

+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “lợi dụng thiên tai, dịch bệnh” vào quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng).

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp”, đồng thời, bổ sung thêm trường hợp phạm tội vào quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Làm chết người.

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng).

  1. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản – Căn cứ Điều 172 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm lựa chọn đối với tội này, hoặc cải tạo không giam giữ, hoặc phạt tù.

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung các hành vi phạm tội này:

+ Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ (trường hợp bổ sung)

+ Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp trên (trường hợp bổ sung)

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung các hành vi phạm tội này:

+ Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trên (trường hợp bổ sung).

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh (trường hợp bổ sung).

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung các hành vi phạm tội này:

+ Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp trên (trường hợp bổ sung).

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (trường hợp bổ sung).

– Thay mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng(trước đây là từ 5 triệu đồng đến 100 triệu đồng)

  1. Tội trộm cắp tài sản – Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Quy định chi tiết các hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng” vào quy định.

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời, bổ sung thêm một số trường hợp vi phạm:

+ Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp trên (trường hợp bổ sung)

+ Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh (trường hợp bổ sung)

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, đồng thời, bổ sung thêm một số trường hợp vi phạm sau:

+ Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp trên (trường hợp bổ sung)

+ Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp (trường hợp bổ sung)

  1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Căn cứ Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Căn cứ Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đồng thời nâng mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng thay vì 03 tháng như trước đây.

– Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “có tính chất chuyên nghiệp” đối với quy định sau:

+ Có tính chất chuyên nghiệp (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng)

– Hạ khung hình phạt đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” đối với quy định sau:

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng)

– Bãi bỏ mức phạt tù chung thân và trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” đối với trường hợp phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

  1. Tội chiếm giữ trái phép tài sản – Căn cứ Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm mức phạt tiền, đồng thời hạ mức phạt cải tạo không giam giữ đối với tội này.

  1. Tội sử dụng trái phép tài sản – Căn cứ Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng giá trị tài sản bị vi phạm đối với tội này.

– Có thể phạt tiền thay bằng phạt tù, hạ mức phạt tù thấp nhất xuống còn 01 năm, đồng thời bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” và bổ sung thêm một số trường hợp:

+ Tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung)

+ Tài sản là bảo vật quốc gia (trường hợp bổ sung)

– Thay cụm từ “gây hậu quả nghiêm trọng” thành cụm từ “sử dụng trái phép tài sản” vào trường hợp phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

  1. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản – Căn cứ Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hóa các hành vi phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

– Bãi bỏ trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng”, bổ sung thêm một số trường hợp sau:

+ Gây thiệt hại tài sản là bảo vật quốc gia (trường hợp bổ sung)

+ Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác (trường hợp bổ sung)

+ Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp nêu trên (trường hợp bổ sung)

– Hạ khung hình phạt tù đối với trường hợp phạm tội sau, thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng một trường hợp khác:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây mức phạt tù là 07 năm đến 15 năm):

+ Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+ Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định trên (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng)

– Hạ mức phạt thấp nhất, bãi bỏ mức phạt tù chung thân đối với trường hợp phạm tội sau, thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng một trường hợp khác:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm (trước đây mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân):

+ Gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp trên. (trước đây quy định là gây hậu quả nghiêm trọng)

  1. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp – Căn cứ Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng giá trị tài sản bị vi phạm, đồng thời bãi bỏ hình phạt tù thay thế bằng hình phạt cảnh cáo.

– Nâng giá trị tài sản bị vi phạm, đồng thời hạ khung hình phạt tù đối với trường hợp sau:

Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng (trước đây là 200 – 500 triệu đồng) thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm(trước đây mức phạt tù là từ 02 năm đến 07 năm)

Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trị giá 2.000.000.000 đồng trở lên (trước đây trên 500 triệu đồng), thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây mức phạt tù là từ 07 năm đến 15 năm)

  1. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản – Căn cứ Điều 180 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức thấp nhất của giá trị tài sản bị phạm, đồng thời bãi bỏ hình phạt tù đối với tội này.

– Hạ khung hình phạt tù đối với trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của người khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây là 01 năm đến 03 năm).

Chương XVII: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

  1. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng – Căn cứ Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ việc gây hậu quả nghiêm trọng, đồng thời bãi bỏ hình phạt cảnh cáo đối với tội này.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, đó là trường hợp làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

  1. Tội tổ chức tảo hôn – Căn cứ Điều 183 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bãi bỏ tội tảo hôn, chỉ còn quy định xử lý hình sự đối với tội tổ chức tảo hôn. Đồng thời, thay hình phạt tù, phạt cảnh cáo bằng hình phạt tiền.

  1. Tội loạn luân – Căn cứ Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015

Nâng mức phạt tù thấp nhất lên 01 năm, thay vì là 06 tháng như trước đây: Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình – Căn cứ Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, đồng thời nâng mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng, thay vì 03 tháng như trước đây.

– Bổ sung quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu.

+ Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

  1. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng – Căn cứ Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015

Chi tiết hơn hậu quả do hành vi này gây ra là: Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quyết định của Tòa án mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại – Căn cứ Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015, nhằm hạn chế trường hợp lợi dụng sự cho phép việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo để kinh doanh trái pháp luật.

Chương XVIII: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

  1. Tội buôn lậu – Căn cứ Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015

Nâng mức phạt tiền đối với tội này, đồng thời quy định lại các hành vi phạm tội.

  1. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới – Căn cứ Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015

Nâng mức phạt tiền đối với tội này từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền từ 5 – 20 triệu đồng), đồng thời chi tiết các hành vi phạm tội.

  1. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm – Căn cứ Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015

Chi tiết hành vi vi phạm tội này, đồng thời nâng mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền là 5 – 50 triệu đồng), nâng mức phạt tù thấp nhất của tội này từ 01 năm đến 05 năm (trước đây mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm).

 

  1. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm – Căn cứ Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội này, nâng mức phạt tiền, đồng thời hạ mức phạt tù cao nhất xuống còn 03 năm.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, hạ khung hình phạt tù đối với trường hợp phạm tội sau thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm (trước đây chỉ có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Hàng phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; (cụ thể giá trị hàng phạm pháp).

+ Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại (trường hợp bổ sung):

  1. Hàng phạm pháp là hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối.
  2. Hàng phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

iii. Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

  1. Hàng phạm pháp trị giá dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc một trong các tội sau: Tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, tội đầu cơ, tội trốn thuế hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Làm rõ giá trị hàng phạm pháp và số lợi thu bất chính, đồng thời hạ khung hình phạt đối với trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây mức phạt tù từ 8 năm đến 15 năm):

+ Hàng phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau mà qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại:

  1. Có tổ chức.
  2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

iii. Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

  1. Có tính chất chuyên nghiệp.
  2. Hàng phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
  3. Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

vii. Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự tội này đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả – Căn cứ Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hóa các hành vi phạm tội, đồng thời có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù đối với tội này như sau:

Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Hàng giả trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Hàng giả trị giá dưới 20.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc một trong tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, tội đầu cơ, tội trốn thuế hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Hàng giả trị giá dưới 20.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới 30.000.000 đồng nhưng gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp: Gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Thêm nhiều trường hợp phạm tội, đồng thời, nâng mức mức phạt thấp nhất lên 05 năm tù thay vì 03 năm tù như trước đây:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm):

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung)

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (làm rõ trường hợp này hơn so với BLHS 1999).

+ Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (làm rõ giá trị số lợi thu bất chính)

+ Làm chết người (trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% (trường hợp bổ sung).

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại (trường hợp bổ sung).

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Thêm nhiều trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Hàng giả có giá thành sản xuất 100.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn từ 200.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (làm rõ trường hợp này hơn so với trước).

+ Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên (làm rõ giá trị số lợi thu bất chính).

+ Làm chết 02 người trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên(trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung).

– Nâng mức phạt tiền tối thiểu đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền là từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại:

  1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm – Căn cứ Khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm mức hình phạt tù cao nhất đối với các trường hợp sau, đồng thời, bổ sung một số trường hợp:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 05 năm đến 12 năm):

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Tái phạm nguy hiểm.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% (trường hợp bổ sung).

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% (trường hợp bổ sung).

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

– Làm rõ việc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đồng thời, giảm khung hình phạt đối với trường hợp này như sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (trước đây, mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm):

+ Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn 200.000.000 đồng trở lên.

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

+ Làm chết người.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Thu lợi bất chính từ 1.500.000.000 đồng trở lên.

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền là từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

– Lần đầu tiên quy định xử lý hình sự tội này đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh – Căn cứ Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Tái phạm nguy hiểm.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

+ Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%(trường hợp bổ sung).

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% (trường hợp bổ sung).

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

– Làm rõ việc gây hậu quả rất nghiêm trọng tại quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

+ Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn 200.000.000 đồng trở lên.

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng.

+ Làm chết người.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng tại quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

+ Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên.

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự tội này đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi – Căn cứ Điều 195 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Cụ thể các hành vi vi phạm tội này, nâng mức phạt tiền đối với tội này như sau:

Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Hàng giả trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Hàng giả trị giá dưới 20.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng công dụng trị giá dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc tại một trong tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, tội đầu cơ, tội trốn thuế hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Tăng mức phạt thấp nhất trong trường hợp phạm tội này:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm):

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp. (trường hợp bổ sung)

+ Tái phạm nguy hiểm.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn (trường hợp bổ sung).

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

+ Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trường hợp bổ sung).

– Làm rõ việc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp sau, đồng thời, nâng mức phạt tù thấp nhất lên 10 năm thay vì 07 năm như trước đây:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

+ Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn 200.000.000 đồng trở lên.

+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật trị giá 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

+ Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng.

– Bổ sung thêm trường hợp xử lý hình sự sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

+ Gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên.

+ Thu lợi bất chính 2.000.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự tội này với pháp nhân thương mại.

  1. Tội đầu cơ – Căn cứ Điều 196 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hóa hành vi phạm tội và nâng mức phạt tiền, đồng thời hạ mức phạt cao nhất xuống còn 03 năm thay vì 05 năm như trước đây:

Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng bình ổn giá hoặc thuộc danh mục hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 20 – 200 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm):

+ Hàng hóa trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

+ Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời hạ mức phạt tù cao nhất xuống còn 07 năm thay vì 10 năm như trước:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Hàng hóa trị giá từ 1.500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng. (chi tiết giá trị hàng đầu cơ).

+ Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng. (chi tiết giá trị số lợi bất chính)

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời hạ mức phạt tù thấp nhất xuống còn 07 năm thay vì 08 năm như trước:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (trước đây, mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm):

+ Hàng hóa trị giá 3.000.000.000 đồng trở lên (chi tiết giá trị hàng đầu cơ)

+ Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên (chi tiết số lợi thu bất chính)

+ Tái phạm nguy hiểm (trước quy định là gây hậu quả nghiêm trọng)

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự tội này với pháp nhân thương mại.

  1. Tội quảng cáo gian dối – Căn cứ Điều 197 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bãi bỏ quy định phạt tù đối với tội này.

  1. Tội lừa dối khách hàng – Căn cứ Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội này, bãi bỏ hình thức phạt tù, đồng thời nâng mức phạt tiền như sau:

Người nào trong việc mua, bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mà cân, đong, đo, đếm, tính gian hàng hóa, dịch vụ hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng) hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời hạ khung hình phạt tù đối với trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm):

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt.

+ Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

– Thêm hình phạt bổ sung, đồng thời nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện – Căn cứ Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội này, đồng thời nâng mức phạt tiền như sau:

Người nào có trách nhiệm mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Cắt điện không có căn cứ hoặc không thông báo theo quy định.

+ Từ chối cung cấp điện không có căn cứ.

+ Trì hoãn việc xử lý sự cố điện không có lý do chính đáng.

– Làm rõ việc gây hậu quả nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời, có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, hạ khung hình phạt này như sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

+ Làm chết người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội trốn thuế – Căn cứ Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội trốn thuế, tăng giá trị tài sản bị vi phạm, đồng thời quy định cụ thể số tiền phạt và thay hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội sau: Tội buôn lậu, Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh, Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi, Tội đầu cơ, Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả, Tội sản xuất trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự, Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền là 01 đến 05 lần số tiền trốn thuế) hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây quy định cải tạo không giam giữ đến 02 năm):

+ Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế không đúng thời hạn theo quy định pháp luật.

+ Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp.

+ Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán.

+ Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn.

+ Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn.

+ Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan.

+ Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

+ Cấu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa.

+ Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

– Thêm nhiều trường hợp phạm tội, quy định cụ thể mức phạt tiền, nâng mức phạt tù thấp nhất lên 01 năm thay vì 06 tháng như trước:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền là 01 đến 05 lần số tiền trốn thuế) hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm):

+ Có tổ chức.

+ Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (trước đây số tiền trốn thuế từ 150 – 500 triệu đồng)

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hay phạt tù, đồng thời nâng số tiền trốn thuế lên 1.000.000.000 đồng trở lên thay vì 500.000.000 đồng như trước:

Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

– Thêm nhiều hình phạt bổ sung, quy định cụ thể mức tiền phạt:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại đối với tội này như sau.

  1. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự – Căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết giá trị lãi suất cao hơn được xem là vi phạm, quy định cụ thể mức phạt tiền, đồng thời, nâng thời hạn phạt cải tạo không giam giữ lên 03 năm thay vì 01 năm như trước đây:

Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 01 đến 10 lần số tiền lãi vi phạm)hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm).

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời làm rõ số lợi thu bất chính: Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Làm rõ mức tiền phạt đối với hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 01 đến 05 lần số lợi thu bất chính), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả – Căn cứ Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền, đồng thời thêm hình phạt cải tạo không giam giữ:

Người nào làm, buôn bán các loại tem giả, vé giả thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Tem giả, vé giả không có mệnh giá có số lượng từ 15.000 đến dưới 30.000 đơn vị.

+ Tem giả, vé giả có mệnh giá có tổng trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.

– Thêm sự lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù đối với các trường hợp sau, đồng thời bổ sung một số trường hợp:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Tem giả, vé giả không có mệnh giá có số lượng 30.000 đơn vị trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Tem giả, vé giả có mệnh giá có tổng trị giá 200.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung).

+ Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên (làm rõ số lợi thu bất chính)

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước –Căn cứ Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết số chứng từ và số lợi thu bất chính đối với hành vi phạm tội này:

Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Thêm sự lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời chi tiết nội dung một số trường hợp:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên (làm rõ số lượng hóa đơn chứng từ vi phạm)

+ Thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên (làm rõ số lợi thu bất chính).

+ Gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước 100.000.000 đồng trở lên (làm rõ việc gây hậu quả nghiêm trọng)

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Hạ mức phạt tiền cao nhất đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 150 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu tiên quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước – Căn cứ Điều 204 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ giá trị tài sản bị thiệt hại, bãi bỏ hình phạt tù, nâng mức phạt cải tạo không giam giữ:

Người nào có trách nhiệm bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ mà vi phạm quy định của Nhà nước về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước hoặc cho người khác từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm).

– Thêm sự lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, giảm nhẹ mức phạt tù đối với các trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

  1. Tội lập quỹ trái phép – Căn cứ Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thay hình phạt tù bằng hình phạt tiền đối với tội này:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái quy định của pháp luật và đã sử dụng quỹ đó gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm) hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Thêm sự lựa chọn hoặc phạt tiền hoặc phạt tù, giảm khung hình phạt tù đối với các trường hợp sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, khung hình phạt tù từ 03 – 10 năm):

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt để trốn tránh việc kiểm soát.

+ Để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

+ Gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

– Giảm khung hình phạt tù đối với trường hợp sau:

Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước từ 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm).

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây mức phạt tiền từ 5 -30 triệu đồng).

  1. Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài – Căn cứ Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền đối với tội này, giảm hình phạt tù đối với tội này:

Người nào trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 01 năm đến 07 năm):

+ Cấp tín dụng cho những trường hợp không được cấp tín dụng trừ trường hợp cấp dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng.

+ Cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng không được cấp tín dụng theo quy định pháp luật.

+ Vi phạm các hạn chế để bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng hoặc cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi thẩm định giá để cấp tín dụng.

+ Vi phạm quy định của pháp luật về tổng mức dư nợ tín dụng đối với các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng.

+ Cấp tín dụng vượt giới hạn so với vốn tự có đối với một khách hàng và người có liên quan, trừ trường hợp có chấp thuận của người có thẩm quyền theo quy định pháp luật.

+ Vi phạm quy định của pháp luật về góp vốn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, điều kiện cấp tín dụng hoặc mua bán tài sản.

+ Phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả; tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

– Quy định chi tiết các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời quy định lại khung hình phạt:

Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

  1. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả – Căn cứ Điều 207 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ trường hợp nghiêm trọng đối với quy định sau:

Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời quy định mức phạt tù thấp nhất:

Phạm tội trong trường hợp tiền giả có trị giá tương ứng từ 50.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

– Quy định mức phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.

  1. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác – Căn cứ Điều 208 Bộ luật Hình sự năm 2015

Làm rõ trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đồng thời quy định lại khung hình phạt đối với các trường hợp sau:

– Phạm tội trong trường hợp công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác có trị giá tương ứng từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

– Phạm tội trong trường hợp công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác có trị giá tương ứng từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

– Phạm tội trong trường hợp công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác có trị giá tương ứng từ 300.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.

  1. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán – Căn cứ Điều 209 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm mức phạt tù thấp nhất xuống còn 03 tháng thay vì 06 tháng như trước đây, đồng thời quy định chi tiết hành vi phạm tội:

Người nào cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm):

+ Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

+ Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán mà còn vi phạm.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, chi tiết một số trường hợp:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Có tổ chức.

+ Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên (Làm rõ số lợi thu bất chính)

+ Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên (Làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng)

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 150 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán – Căn cứ Điều 210 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ số lợi thu bất chính, đồng thời, nâng mức phạt tiền và bãi bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ:

Người nào biết được thông tin liên quan đến công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng chưa được công bố mà nếu được công bố có thể ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của công ty đại chúng hoặc quỹ đại chúng đó mà sử dụng thông tin này để mua bán chứng khoán hoặc tiết lộ, cung cấp thông tin này hoặc tư vấn cho người khác mua bán chứng khoán trên cơ sở thông tin này, thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu từ từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 100 – 500 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù và làm rõ một số trường hợp:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên (làm rõ số lợi thu bất chính).

+ Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 1.500.000.000 đồng trở lên (làm rõ gây hậu quả nghiêm trọng).

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 150 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội thao túng thị trường chứng khoán – Căn cứ Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội hơn trước, nâng mức phạt tiền đối với hành vi phạm tội này, bãi bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 100 – 500 triệu đồng)hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo.

+ Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau giao dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành viên trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo.

+ Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường.

+ Giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán.

+ Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó.

+ Sử dụng các phương thức hoặc thực hiện các hành vi giao dịch khác để tạo cung cầu giả tạo, thao túng giá chứng khoán.

– Làm rõ một số trường hợp, thêm sự lựa chọn hoặc phạt tiền hoặc phạt tù:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Thu lợi bất chính 1.500.000.000 đồng trở lên (làm rõ số lợi thu bất chính)

+ Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên (làm rõ việc gây hậu quả nghiêm trọng)

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 150 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.

  1. Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán – Căn cứ Điều 212 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm – Căn cứ Điều 213 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp – Căn cứ Điều 214 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội gian lận bảo hiểm y tế – Căn cứ Điều 215 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động – Căn cứ Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015
  2. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh – Căn cứ Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản – Căn cứ Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm qui định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng – Căn cứ Điều 220 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng – Căn cứ Điều 221 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng –Căn cứ Điều 222 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015

  1. Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng – Căn cứ Điều 223 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng – Căn cứ Điều 224 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan – Căn cứ Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết giá trị số lợi thu bất chính hoặc giá trị gây thiệt hại, đồng thời nâng mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 50 – 500 triệu đồng), nâng mức phạt cải tạo không giam giữ đối với hành vi phạm tội đến 03 năm (trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm) đối với tội này.

– Có thể lựa chọn phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, đồng thời bổ sung một số trường hợp phạm tội sau:

+ Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung)

+ Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên (làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng)

+ Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung)

– Đối với hình phạt bổ sung về hành vi phạm tội này là nâng mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự với pháp nhân thương mại phạm tội:

  1. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp – Căn cứ Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết số lợi thu bất chính và giá trị tài sản gây thiệt hại vi phạm, nâng mức phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 20 – 200 triệu đồng) và mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm)

– Có thể lựa chọn phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, bổ sung một số trường hợp phạm tội:

+ Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung)

+ Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500.000.000 đồng trở lên (chi tiết trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)

+ Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên (trường hợp bổ sung)

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại.

 

  1. Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên –Căn cứ Điều 227 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết giá trị tài sản bị vi phạm, nâng mức phạt tiền và bãi bỏ hình phạt cảnh cáo đối với hành vi phạm tội này.

– Chi tiết các trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, có thể lựa chọn hình phạt tiền thay hình phạt tù:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Thu lợi bất chính từ nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên nước, dầu khí hoặc loại khoáng sản khác 500.000.000 đồng trở lên.

+ Khoáng sản trị giá 1.000.000.000 trở lên.

+ Có tổ chức.

+ Gây sự cố môi trường.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 04 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Làm chết người.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

  1. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai –Căn cứ Điều 228 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền, đồng thời nâng mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng thay vì 03 tháng như trước.

– Nâng mức phạt tiền đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 30 – 100 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 20 triệu đồng).

  1. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai –Căn cứ Điều 229 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, không thay đổi các mức phạt.

  1. Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất –Căn cứ Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ –Căn cứ Điều 231 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết giá trị tài sản bị vi phạm, đồng thời, thay hình phạt tù bằng hình phạt tiền.

– Thêm sự lựa chọn hoặc phạt tiền hoặc phạt tù, đồng thời, làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Có tổ chức.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

+ Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

  1. Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản –Căn cứ Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội này, đồng thời nâng mức phạt tiền và mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng thay vì 03 tháng như trước.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự với pháp nhân thương mại.

– Thêm sự lựa chọn hoặc phạt tiền hoặc phạt tù, tách 02 nhóm và chi tiết các hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Khai thác trái phép rừng sản xuất với khối lượng từ 40 (m3) đến dưới 80 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 25 (m3) đến dưới 50 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

+ Khai thác trái phép rừng phòng hộ với khối lượng từ 30 (m3) đến dưới 60 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 20 (m3) đến dưới 40 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

+ Khai thác trái phép rừng đặc dụng với khối lượng từ 30 (m3) đến dưới 60 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 10 (m3) đến dưới 20 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

+ Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 400.000.000 đồng.

+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép từ 03 (m3) đến dưới 06 (m3) đối với gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; từ 20 (m3) đến dưới 40 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 40 (m3) đến dưới 80 (m3) gỗ của loài thực vật thông thường.

+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái pháp luật các loài thực vật hoang dã khác trị giá từ 600.000.000 đồng đến dưới 1.200.000.000 đồng.

+ Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại.

+ Phạm tội có tổ chức.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 20 triệu đồng).

  1. Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng –Căn cứ Điều 233 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội.

– Chi tiết các hành vi gây hậu quả nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 25.000 (m2) đến dưới 40.000 (m2) đối với rừng sản xuất; từ 20.000 (m2) đến dưới 30.000 (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 15.000 (m2) đến dưới 25.000 (m2) đối với rừng đặc dụng (Chi tiết hành vi gây hậu quả nghiêm trọng).

+ Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 12.500 (m2) đến dưới 17.000 (m2) đối với rừng sản xuất; từ 10.000 (m2) đến 15.000 (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 7.500 (m2) đến 12.000 (m2) đối với rừng đặc dụng (Chi tiết hành vi gây hậu quả nghiêm trọng).

+ Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau (Chi tiết hành vi gây hậu quả nghiêm trọng).

  1. Khai thác trái phép rừng sản xuất với khối lượng từ 40 (m3) đến dưới 80 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 25 (m3) đến dưới 50 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.
  2. Khai thác trái phép rừng phòng hộ với khối lượng từ 30 (m3) đến dưới 60 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 20 (m3) đến dưới 40 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

iii. Khai thác trái phép rừng đặc dụng với khối lượng từ 30 (m3) đến dưới 60 (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 10 (m3) đến dưới 20 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA.

  1. Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 400.000.000 đồng.
  2. Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép từ 03 (m3) đến dưới 06 (m3) đối với gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; từ 20 (m3) đến dưới 40 (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 40 (m3) đến dưới 80 (m3) gỗ của loài thực vật thông thường.
  3. Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái pháp luật các loài thực vật hoang dã khác trị giá từ 600.000.000 đồng đến dưới 1.200.000.000 đồng.

vii. Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại.

viii. Phạm tội có tổ chức.

  1. Tái phạm nguy hiểm.

– Chi tiết các hành vi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

+ Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 40.000 (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; từ 30.000 (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc từ 25.000 (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng.

+ Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 17.000 (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; từ 15.000 (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc từ 12.000 (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã –Căn cứ Điều 234 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi vi phạm, tăng mức phạt cải tạo không giam giữ lên 03 năm thay vì 02 năm như trước.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự với pháp nhân thương mại.

– Có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, nâng mức phạt tù thấp nhất lên 03 năm thay vì 02 năm như trước và chi tiết trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm.

+ Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm.

+ Buôn bán, vận chuyển qua biên giới (chi tiết việc gây hậu quả rất nghiêm trọng)

+ Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có giá trị từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng; động vật hoang dã thông thường hoặc bộ phận, sản phẩm của các động vật đó trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên (chi tiết việc gây hậu quả rất nghiêm trọng).

+ Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (chi tiết việc gây hậu quả rất nghiêm trọng).

+ Tái phạm nguy hiểm.

Pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự với pháp nhân thương mại.

– Chi tiết các trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nâng khung hình phạt lên từ 07 năm đến 12 năm thay vì 02 năm đến 07 năm như trước:

+ Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp hoặc bộ phận, sản phẩm của các động vật đó trị giá 2.000.000.000 đồng trở lên.

+ Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.

– Ngoài ra, pháp nhân thương mại phạm tội quy định về đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chương XIX: Các tội phạm về môi trường

  1. Tội gây ô nhiễm môi trường –Căn cứ Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền, bãi bỏ mức phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời nâng mức phạt tù thấp nhất lên 01 năm thay vì 06 tháng như trước.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự với pháp nhân thương mại.

– Bổ sung quy định sau:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 1.000 kilôgam đến dưới 3.000 kilôgam.

+ Chuyển giao, cho, mua, bán chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy thuộc danh mục cấm sử dụng trái quy định của pháp luật từ 2.000 kilôgam trở lên.

+ Xả thải ra môi trường từ 1.000 (m3)/ngày đến 10.000 (m3)/ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 05 lần đến dưới 10 lần.

+ Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 01 lần đến dưới 02 lần.

+ Xả ra môi trường từ 1.000 (m3)/ngày đến dưới 10.000 (m3)/ngày trở nước thải lên thuộc một trong các trường hợp nước có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14.

+ Thải ra môi trường từ 150.000 (m3)/giờ đến dưới 300.000 (m3)/giờ bụi, khí thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về chất thải 10 lần trở lên.

+ Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải rắn thông thường trái quy định của pháp luật từ 100.000 kilôgam đến 200.000 kilôgam.

+ Chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ – phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép.

+ Phát tán ra môi trường bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật hoặc vượt mức giới hạn theo quy định từ 01 lần đến dưới 02 lần.

– Ngoài ra, pháp nhân thương mại phạm tội quy định về đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Quy định hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại –Căn cứ Điều 236 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Quy định chi tiết hành vi phạm tội, giảm mức phạt tiền tối đa và giảm khung hình phạt tù.

– Có thể lựa chọn hoặc phạt tiền hoặc phạt tù, giảm mức phạt tù cao nhất xuống còn 05 năm và thêm trường hợp phạm tội: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tiền từ 02 năm đến 07 năm):

+ Chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 5.000 kilôgam đến dưới 10.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trung bình theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ – phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép (trường hợp bổ sung)

+ Có tổ chức.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc trường hợp chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy 10.000 kilôgam trở lên; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm trên trung bình theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ – phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường –Căn cứ Điều 237 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả nghiêm trọng xảy ra do hành vi phạm tội này, và nâng mức phạt cải tạo không giam giữ lên 02 năm:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm) hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra sự cố môi trường.

+ Vi phạm quy định về ứng phó, khắc phục sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên hoặc gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng.

Pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng và có thể lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Làm chết người.

+ Gây thiệt hại từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 7.000.000.000 đồng.

Pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 7.000.000.000 đồng trở lên.

Pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng.

– Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

– Giảm mức phạt tiền tối đa xuống còn 50 triệu đồng đối với hình phạt bổ sung.

  1. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông –Căn cứ Điều 238 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam –Căn cứ Điều 239 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội

– Giảm mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 100 – 500 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Quy định hình phạt bổ sung cho pháp nhân thương mại phạm tội: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.

  1. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người –Căn cứ Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất lên 20 triệu đồng đối với hình phạt bổ sung: Từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật –Căn cứ Điều 241 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng).

  1. Tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản –Căn cứ Điều 242 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hậu quả do hành vi này gây ra và nâng mức phạt tiền đối với tội phạm này từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng).

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và nâng mức phạt tiền:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 50 – 200 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

+ Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 04 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên.

+ Làm chết người.

Pháp nhân phạm tội thuộc các trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm):

+ Gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản 1.500.000.000 đồng trở lên hoặc thủy sản thu được trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Làm chết 02 người trở lên.

Pháp nhân phạm tội thuộc các trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Quy định hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội: Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn ngày 27 tháng 11 năm 2015 từ 01 năm đến 03 năm.

  1. Tội huỷ hoại rừng –Căn cứ Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Cụ thể hóa các hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng), nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Giảm mức phạt tù tối đa xuống còn 07 năm, chi tiết các trường hợp phạm tội:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Tái phạm nguy hiểm.

+ Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc kiểu trạng thái rừng có diện tích từ 50.000 (m2) đến dưới 100.000 (m2) (chi tiết hành vi phạm tội)

+ Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2) (chi tiết hành vi phạm tội)

+ Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2) (chi tiết hành vi phạm tội)

+ Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 5.000 mét vuông (m2) (chi tiết hành vi phạm tội)

+ Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 120.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên; từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích rừng bị đốt, bị phá hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng không tập trung mà phân tán, rải rác trong cùng một tiểu khu hoặc nhiều tiểu khu(chi tiết hành vi phạm tội).

+ Thực vật thuộc loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, các loại thực vật khác thuộc Nhóm IA trị giá từ trên 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật thuộc Nhóm IIA trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (chi tiết hành vi phạm tội).

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Ngoài ra, pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định về đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng).

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm –Căn cứ Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền và nâng mức phạt tù thấp nhất lên 01 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Tăng khung hình phạt và làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, và tăng khung hình phạt với tội phạm này.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

+ Số lượng động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của từ 08 cá thể lớp thú trở lên, 11 cá thể lớp chim, lớp bò sát trở lên hoặc 16 cá thể lớp khác trở lên thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

+ Số lượng động vật nguy cấp, quý hiếm Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp mà không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ với số lượng từ 03 đến 07 cá thể lớp thú, từ 07 đến 10 cá thể lớp chim, bò sát hoặc từ 10 đến 15 cá thể động vật các lớp khác hoặc số lượng bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại của 12 cá thể lớp thú trở lên, 16 cá thể lớp chim, bò sát trở lên hoặc 21 cá thể động vật trở lên thuộc các lớp khác.

+ Từ 03 cá thể voi, tê giác hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại trở lên; 06 cá thể gấu, hổ hoặc bộ phận cơ thể không thể tách rời sự sống cùng loại trở lên; ngà voi có khối lượng 90 kilôgam trở lên; sừng tê giác có khối lượng 09 kilôgam trở lên.

Pháp nhân phạm tội thuộc các trường hợp trên, thì bị phạt tiền từ 10.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội

– Ngoài ra, pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp quy định về đình chỉ hoạt động vĩnh viễn thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên –Căn cứ Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết các hành vi vi phạm và nâng mức phạt tiền đối với hành vi phạm tội này.

– Lần đầu quy định xử lý hình sự pháp nhân thương mại phạm tội.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

– Quy định hình phạt bổ sung với pháp nhân thương mại phạm tội:

Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

  1. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại –Căn cứ Điều 246 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội và nâng mức hình phạt như sau: Người nào thực hiện một trong các hành vi sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 50 – 500 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù 06 tháng đến 05 năm).

Chương XX: Các tội phạm về ma túy

  1. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy –Căn cứ Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung trường hợp phạm tội:

Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống.

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây. (trường hợp bổ sung)

– Bổ sung quy định sau:

Người nào phạm tội thuộc trường hợp trên, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn TNHS.

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, đó là trường hợp: Với số lượng 3.000 cây trở lên.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất lên 5 triệu đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 1 – 50 triệu đồng)

  1. Tội sản xuất trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.

– Thêm trường hợp bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 100 gam trở lên.

  1. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội và giảm khung hình phạt đối với tội này là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm(trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm).

  1. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015

Quy định chi tiết hơn hành vi phạm tội này so với Bộ luật Hình sự năm 1999

  1. Tội mua bán trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam và mua bán với 02 người trở lên;

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam.

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, đó là trường hợp: Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 100 gam trở lên.

  1. Tội chiếm đoạt chất ma túy –Căn cứ Điều 252 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm khung hình phạt đối với tội này là bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm).

223.Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy – Căn cứ Điều 253 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ trường hợp phạm tội:

Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong những trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

+ Tiền chất có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam đối với thể rắn, từ 75 mililít đến dưới 300 mililít đối với thể lỏng.

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm, đó là trường hợp: Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội.

– Bổ sung quy định sau:

Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì quy đổi để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng.

Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc điều khoản nào thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu TNHS theo điều khoản đó.

  1. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 254 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, đó là trường hợp: Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội và làm rõ số lượng vận chuyển phạm pháp “Vận chuyển với số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên”

  1. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung thêm quy định “nếu không thuộc trường hợp phạm tội sử dụng trái pháp chất ma túy” vào quy định sau:

Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp phạm tội sử dụng trái pháp chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

  1. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, đó là trường hợp vì tư lợi.

  1. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy –Căn cứ Điều 258 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Giảm khung hình phạt đối với tội này:

Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm).

– Giảm khung hình phạt và bổ sung trường hợp phạm tội sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm):

+ Có tổ chức.

+ Phạm tội 02 lần trở lên.

+ Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi.

+ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

+ Đối với phụ nữ mà biết là có thai.

+ Đối với 02 người trở lên.

+ Đối với người đang cai nghiện.

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây bệnh nguy hiểm cho người khác.

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Giảm khung hình phạt đối với các trường hợp phạm tội sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (trước đây, mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm):

+ Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người.

+ Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên.

+ Đối với người dưới 13 tuổi.

– Quy định mức phạt tù thấp nhất đối với trường hợp sau:

Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần –Căn cứ Điều 259 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền tối thiểu đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Chương XXI: Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng

  1. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ –Căn cứ Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 – Căn cứ Điều 261 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền, tăng khung hình phạt và làm rõ thiệt hại do hành vi phạm tội này gây ra cụ thể: Nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng),phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).

– Bổ sung quy định sau:

Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Có thể lựa chọn hình thức phạt tiền hoặc các hình thức phạt khác và giảm mức phạt tù cao nhất xuống còn 01 năm:

Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm)

  1. Tội cản trở giao thông đường bộ

– Làm rõ hậu quả do hành vi này gây ra, nâng mức phạt tiền và mức phạt tù thấp nhất đối với hành vi phạm tội này.

– Bổ sung quy định sau:

Người đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc nhọn hoặc các chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc các thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy; sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Bãi bỏ hình thức phạt tù đối với quy định sau:

Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.

231.Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông – Căn cứ Điều 262 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi này gây ra và nâng mức phạt tiền đối với hành vi phạm tội này.

– Bổ sung quy định sau:

Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ –Căn cứ Điều 263 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội và làm rõ hậu quả do hành vi này gây ra, nâng mức phạt tiền đối với các hành vi này từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện, người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà vẫn điều động người đó điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

– Bổ sung mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ –Căn cứ Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Cụ thể hóa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi này gây ra, đồng thời nâng mức phạt tiền và bãi bỏ hình phạt tù đối với tội này.

– Bổ sung quy định sau:

Người chủ sở hữu, quản lý phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà giao cho người không có giấy phép lái xe hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.

– Quy định hình phạt bổ sung đối với tội này như sau:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

  1. Tội tổ chức đua xe trái phép –Căn cứ Điều 265 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền đối với tội này từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Bổ sung quy định sau:

Người tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 30 triệu đồng)

  1. Tội đua xe trái phép –Căn cứ Điều 266 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra, nâng mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), và hạ mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm).

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 30 triệu đồng).

  1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt –Căn cứ Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội cản trở giao thông đường sắt –Căn cứ Điều 268 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra, nâng mức phạt tiền và hạ mức phạt tù cao nhất.

– Bổ sung quy định sau:

Người đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; tự ý khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường ngang, xây cống hoặc các công trình khác trái phép qua đường sắt; làm hỏng, thay đổi, chuyển dịch, che khuất tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu của công trình giao thông đường sắt; để súc vật đi qua đường sắt không theo đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển; đưa trái phép phương tiện tự tạo, phương tiện không được phép chạy trên đường sắt hoặc phá hoại phương tiện giao thông vận tải đường sắt hoặc lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường sắt, phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường sắt cản trở giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Nâng mức phạt tiền và mức phạt cải tạo không giam giữ đối với hình phạt bổ sung:

Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm(trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm) hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện, thiết bị giao thông đường sắt không bảo đảm an toàn –Căn cứ Điều 269 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau: Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường sắt mà cho phép đưa vào sử dụng các phương tiện, thiết bị không có giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm hoặc có nhưng biết là các phương tiện, thiết bị đó không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt –Căn cứ Điều 270 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người điều động hoặc giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người không đủ sức khỏe; người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt –Căn cứ Điều 271 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra, nâng mức phạt tiền và giảm khung hình phạt tù.

– Bổ sung quy định sau:

Người giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ –Căn cứ Điều 272 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội cản trở giao thông đường thuỷ –Căn cứ Điều 273 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người khoan, đào trái phép làm hư hại kết cấu của các công trình giao thông đường thuỷ; tạo ra chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường thuỷ mà không đặt và duy trì báo hiệu; di chuyển làm giảm hiệu lực, tác dụng của báo hiệu; tháo dỡ báo hiệu hoặc phá hoại công trình giao thông đường thuỷ; lấn chiếm luồng hoặc hành lang bảo vệ luồng giao thông đường thuỷ hoặc hành vi khác cản trở giao thông đường thủy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Nâng mức phạt tiền và mức phạt cải tạo không giam giữ đối với trường hợp sau: Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 30 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn –Căn cứ Điều 274 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ –Căn cứ Điều 275 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người điều động người không có giấy phép, giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ –Căn cứ Điều 276 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng), giảm mức phạt tù xuống còn từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm).

– Bổ sung quy định sau:

Người giao cho người không có giấy phép, giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay –Căn cứ Điều 277 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền đối với hành vi phạm tội này từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng).

  1. Tội cản trở giao thông đường không –Căn cứ Điều 278 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi này gây ra, tăng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 10 – 50 triệu đồng).

– Bổ sung quy định sau:

Người đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đường không; di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất, hoặc phá huỷ các biển hiệu, tín hiệu an toàn giao thông đường không; sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần số thông tin liên lạc; cố ý cung cấp thông tin sai đến mức gây uy hiếp an toàn của tàu bay đang bay hoặc trên mặt đất; an toàn của hành khách, tổ bay, nhân viên mặt đất hoặc người tại cảng hàng không, sân bay và công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng; làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc trang thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho an toàn bay hoặc hành vi khác cản trở giao thông đường không cản trở giao thông đường không gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Nâng mức phạt tiền đối với trường hợp sau:

Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 20 triệu đồng), phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn –Căn cứ Điều 279 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định:

Người có trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông đường không mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không bảo đảm an toàn kỹ thuật, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không –Căn cứ Điều 280 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ trường hợp gây thiệt mạng, thiệt hại về sức khoẻ, tài sản của người khác bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm).

– Bổ sung quy định:

Người điều động hoặc giao cho người không có giấy phép người lái tàu bay hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường không gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn hương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông –Căn cứ Điều 281 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi này gây ra, nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng).

  1. Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ –Căn cứ Điều 282 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

(Các trường hợp còn lại không đổi)

– Làm rõ số người chết và trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên.

  1. Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam –Căn cứ Điều 283 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Hạ mức phạt tù thấp nhất xuống còn 03 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).

– Bổ sung quy định:

Người điều khiển tàu bay vào hoặc ra khỏi Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu không thuộc trường hợp quy định về tội gián điệp, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

  1. Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam –Căn cứ Điều 284 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Quy định rõ hành vi phạm tội, thay hình phạt tù bằng hình phạt cải tạo không giam giữ.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 500 – 800 triệu đồng) hoặc phạt tù từ 03năm đến 07 năm:

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

  1. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật –Căn cứ Điều 285 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại BLHS 2015.

  1. Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử –Căn cứ Điều 286 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi vi phạm, nâng mức phạt tiền và bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

+ Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh.

+ Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông.

+ Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.

+ Làm lây nhiễm 500 phương tiện điện tử trở lên hoặc hệ thống thông tin có từ 500 người sử dụng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử –Căn cứ Điều 287 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi phạm tội, nâng mức phạt tiền, hạ mức phạt tù thấp nhất và bãi bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

+ Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh.

+ Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin, giao dịch tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông.

+ Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên.

+ Gây thiệt hại 1.500.000.000 đồng trở lên.

+ Làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử 168 giờ trở lên hoặc 50 lần trở lên trong thời gian 24 giờ.

+ Làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức 168 giờ trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông –Căn cứ Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi này gây ra, nâng mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng).

– Thêm lựa chọn phạt tiền, nâng mức phạt tù cao nhất và làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (trước đây, mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm):

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông.

+ Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

+ Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

+ Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

+ Dẫn đến biểu tình (làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng).

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 3 – 30 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác –Căn cứ Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Nâng mức phạt tiền đối với tội này từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 20 – 200 triệu đồng).

– Thêm sự lựa chọn phạt tiền hoặc phạt tù, và làm rõ các trường hợp phạm tội:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Có tổ chức.

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

+ Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (làm rõ số lợi thu bất chính).

+ Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (làm rõ giá trị tài sản thiệt hại).

+ Đối với trạm trung chuyển internet quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu tên miền và hệ thống máy chủ tên miền quốc gia (trường hợp bổ sung).

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Nâng mức phạt tù thấp nhất và làm rõ các trường hợp phạm tội:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm (trước đây, mức phạt tù từ 05 năm đến 12 năm):

+ Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng, an ninh.

+ Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống thông tin điều khiển giao thông.

+ Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên (làm rõ số lợi thu bất chính)

+ Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên (làm rõ gây hậu quả nghiêm trọng)

  1. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản –Căn cứ Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hành vi phạm tội, thay hình phạt tiền bằng hình phạt cải tạo không giam giữ, hạ khung hình phạt tù.

  1. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng –Căn cứ Điều 291 Bộ luật Hình sự năm Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông –Căn cứ Điều 292 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh –Căn cứ Điều 293 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội cố ý gây nhiễu có hại– Căn cứ Điều 294 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người –Căn cứ Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra, bổ sung mức phạt tiền, nâng mức phạt tù thấp nhất.

– Bổ sung quy định sau:

Người vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi –Căn cứ Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hành vi vi phạm, nâng mức phạt tiền, nâng mức phạt cải tạo không giam giữ, và mức phạt tù.

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 2 – 20 triệu đồng).

  1. Tội cưỡng bức lao động –Căn cứ Điều 297 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng –Căn cứ Điều 298 Bộ luật hình sự 2015

– Làm rõ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi này gây ra, nâng mức phạt tiền, nâng mức phạt tù thấp nhất.

– Bổ sung quy định:

Người vi phạm quy định về xây dựng trong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, giám sát, nghiệm thu công trình hay các lĩnh vực khác, nếu không thuộc trường hợp quy định về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

– Nâng mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội khủng bố –Căn cứ Điều 299 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Thêm trường hợp phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm, đó là trường hợp:

+ Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố.

+ Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố.

– Bổ sung quy định hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

– Thêm quy định tước một số quyền công dân đối với hình phạt bổ sung:

  1. Tội tài trợ khủng bố –Căn cứ Điều 300 Bộ luật Hình sự năm 2015

Thêm quy định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội:

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội bắt cóc con tinCăn cứ Điều 301 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội cướp biển –Căn cứ Điều 302 Bộ luật Hình sự năm 2015

Đây là quy định mới tại Bộ luật Hình sự năm 2015.

  1. Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia –Căn cứ Điều 303 Bộ luật Hình sự năm 2015

Bài bỏ hình phạt tử hình đối với tội này.

  1. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự –Căn cứ Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

+ Vật phạm pháp có số lượng: từ 03 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 01 đến 05 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 05 đến 15 quả mìn, lựu đạn; từ 03 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ 10 kilôgam đến 30 kilôgam thuốc nổ các loại hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

+ Vật phạm pháp có số lượng: Từ 11 đến 30 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 6 đến 20 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 16 đến 45 quả mìn, lựu đạn; từ 11 đến 30 quả đạn cối, đạn pháo; từ 1.001 đến 3000 viên đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 601 đến 2.000 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ trên 31 kilôgam đến 100 kilôgam thuốc nổ các loại; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Vật phạm pháp có số lượng: Từ 31 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên trở lên; từ 21 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41 trở lên; từ 46 quả mìn, lựu đạn trở lên; từ 31 quả đạn cối, đạn pháo trở lên; từ 3001 viên đạn trở lên (đạn bộ binh cỡ 11,43 ly trở xuống); từ 2.001 viên đạn súng máy cao xạ trở lên (đạn cỡ 12,7 ly đến 25 ly); từ 101 kilôgam trở lên thuốc nổ các loại; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên.

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ –Căn cứ Điều 305 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

+ Thuốc nổ các loại từ 10 kilôgam đến 30 kilôgam hoặc từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 mét đến dưới 10.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

(Các trường hợp còn lại không đổi)

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Thuốc nổ các loại từ trên 31 kilôgam đến 100 kilôgam; từ 3.001 đến 10.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ hoặc từ 10.000 mét đến dưới 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ.

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Thuốc nổ các loại từ 101 kilôgam trở lên; từ 10.001 nụ xuỳ hoặc ống nổ trở lên hoặc từ 30.000 mét dây cháy chậm, dây nổ trở lên.

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự –Căn cứ Điều 306 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung thêm một số hành vi phạm tội:

Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tù từ 01năm đến 05 năm:

+ Có 11 đơn vị súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ hoặc vũ khí không thuộc danh mục vũ khí do Chính phủ ban hành nhưng có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng trở lên.

+ Làm chết 01 người trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản 100.000.000 đồng trở lên.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng(trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ –Căn cứ Điều 307 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng –Căn cứ Điều 308 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Làm rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và hạ mức phạt tù cao nhất xuống còn 03 năm:

Người nào được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm):

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, phân tách khung hình phạt này riêng:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Bổ sung quy định:

Người được giao vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thể thao, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ mà thiếu trách nhiệm để người khác sử dụng gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân –Căn cứ Điều 309 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau:

Người sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân –Căn cứ Điều 310 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau:

Người vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc –Căn cứ Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Bổ sung quy định sau:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

+ Hóa chất độc thuộc Bảng 3 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Hóa chất độc thuộc Bảng 2 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ giá trị vật phạm pháp và trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

+ Hóa chất độc thuộc Bảng 1 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

  1. Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc –Căn cứ Điều 312 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết trường hợp gây thiệt mạng, thiệt hại cho sức khoẻ, tài sản của người khác:

Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc thuộc một trong những trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm).

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (trước đây, mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Bổ sung quy định sau:

Người vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy –Căn cứ Điều 313 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và nâng mức phạt tù thấp nhất:

Người nào vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy thuộc một trong những trường hợp sau, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm (trước đây, mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm):

+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 05 năm đến 08 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 năm đến 08 năm)

+ Làm chết 02 người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Làm rõ trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Bổ sung quy định sau:

Người vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Hạ mức phạt cải tạo không giam giữ và mức phạt tù cao nhất đối với trường hợp sau:

Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm(trước đây, mức phạt cải tạo không giam giữ là 02 năm) hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (trước đây, mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm).

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện –Căn cứ Điều 314 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và bổ sung quy định phạt tiền:

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Cho phép xây nhà, công trình hoặc tự ý xây nhà, công trình trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình điện.

+ Gây nổ, gây cháy, đốt rừng làm nương rẫy, làm đổ cây ảnh hưởng đến an toàn vận hành công trình điện.

+ Đào hố, đóng cọc, xây nhà lên hành lang bảo vệ đường cáp điện ngầm.

+ Thả neo tàu, thuyền trong hành lang bảo vệ đường cáp điện ngầm đặt ở lòng sông, lòng biển đã có thông báo hoặc biển báo.

+ Lắp các thiết bị điện hoặc thi công đường điện không bảo đảm an toàn.

– Chi tiết hậu quả rất nghiêm trọng và thêm hình phạt tiền:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Làm chết người.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Chi tiết trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Làm chết 02 người trở lên.

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Bổ sung hình phạt tiền trong trường hợp sau:

– Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

  1. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác –Căn cứ Điều 315 Bộ luật Hình sự năm 2015

– Chi tiết việc gây thiệt mạng, gây thiệt hại đến sức khỏe, tài sản của người khác:

Người nào vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nếu không thuộc trường hợp quy định về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuộc một trong các trường hợp dưới đây hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Làm chết 01 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là 61% đến 121%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Chi tiết trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

+ Làm chết 02 người.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

– Chi tiết trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

+ Làm chết 03 người trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

– Bổ sung quy định sau:

Người vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nếu không thuộc trường hợp quy định về tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

– Nâng mức phạt tiền thấp nhất đối với hình phạt bổ sung:

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây, mức phạt tiền từ 5 – 50 triệu đồng), cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.