Trang chủ » Kiến thức pháp luật » Dân sự » Kiến thức pháp luật » Hành chính » Kiến thức pháp luật » Thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án Dân sự.

Thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án Dân sự.

Thẩm quyền của Cơ quan Thi hành án Dân sự.

thi-hanh-an-dan-su

Thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án được quy định tại Điều 35 Luật thi hành án dân sự 2008, được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện tại Điều 35 của văn bản hợp nhất Luật thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH. Theo đó, thẩm quyền của các cơ quan thi hành án được quy định như sau:

1.Thẩm quyền thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện bao gồm:

a)Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương  nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

b)Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương  đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương  nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở;

c)Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;

d)Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác.

2.Thẩm quyền thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh bao gồm:

a)Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cùng địa bàn;

b)Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao;

c)Quyết định của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;

d)Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;

đ)Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;

e)Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh;

g)Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác;

h)Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật thi hành án dân sự mà thấy cần thiết lấy lên để thi hành;

i)Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật thi hành án dân sự mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án.

3.Thẩm quyền thi hành án của Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:

a)Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;

b)Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự khu vực trên địa bàn;

c)Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

d)Quyết định dân sự của Tòa án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;

đ)Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác.

Là cơ quan trực tiếp thi hành các bản án, quyết định, cơ quan Thi hành án dân sự khi tiến hành các hoạt động thi hành án gặp không ít bản án, quyết định thiếu sót, vi phạm được thể hiện bản án, quyết định đó. Cơ quan Thi hành án dân sự không chỉ có nhiệm vụ tổ chức thi hành bản án, quyết định mà còn phải kiểm tra tính đúng đắn, chính xác của những bản án, quyết định đưa ra thi hành nhằm hạn chế oan sai trong xét xử và thi hành án. Do vậy, trong khi thi hành án nếu nhận thấy những bản án, quyết định mình thi hành có dấu hiệu vi phạm pháp luật, oan sai, cơ quan Thi hành án dân sự có quyền kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự được quy định tại điểm d và đ khoản 1 Điều 23 Luật thi hành án dân sự 2008.