Trang chủ » Văn bản pháp luật » Hình sự và tố tụng » Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự

Hiện nay, cho vay nặng lãi không còn xa lạ với chúng ta nữa mà ngày càng diễn ra rất phổ biến để lại những hậu quả khôn lường. Trong bài viết này, Văn phòng Luật sư Quang Dũng và cộng sự, chúng tôi sẽ giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về cho vay nặng lãi và tội cho vay nặng lãi mà pháp luật quy định.

Theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là cho vay nặng lãi”.

  • Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì pháp luật không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.
  • Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cho vay nặng lãi cũng cấu thành tội cho vay nặng lãi.
    TỘI CHO VAY NẶNG LÃI.

Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, thì:

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thứ nhất, lãi suất cho vay gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự.Theo quy định tại Điều 476 BLDS về lãi suất thì lãi suất không vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng, nếu lãi suất vay gấp 5 lần mức lãi suất này và thu lợi thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Ví dụ Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất cao nhất đối với cho vay tiền Việt Nam (đồng) kì hạn 3 tháng là 1%/ tháng, lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận là 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là 1,5%/tháng thì hành vi cho vay tiền (VN đồng) kì hạn 3 tháng với mức lãi bằng hoặc lớn hơn 4,5%/ tháng (gấp 5 lần mức lãi suất tối đa pháp luật cho phép) thì bị coi là cho vay nặng lãi.

Thứ hai, Phải thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên Nếu người cho vay nặng lãi thu lợi dưới 30.000.000 thì không cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Như vậy người cho vay nặng lãi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn cả hai điều kiện trên.